< Ban tin 181
Ngay cả những vị Ðại minh sư
cũng tôn trọng luật lệ của thế giới này


Thanh Hải Vô Thượng Sư khai thị
ngày 16 tháng 7, 1994, San Jose, California, Hoa Kỳ
(nguyên văn tiếng Anh) - Băng thâu hình số 438
Quý vị hay hỏi tôi tại sao tôi không đánh ác quỷ, đuổi chúng đi hết, rồi giải thoát cả thế giới hay giải thoát cho đệ tử, ít nhất cũng nấu hết nghiệp chướng của họ làm cà-ri, cho xong hết cho rồi. Ðể lại nghiệp chướng kiếp này làm chi? Ðôi khi đệ tử cũng chịu chút khổ đau bệnh tật. Nhưng vậy cũng đỡ hơn trước lắm rồi, bởi vì mỗi ngày quý vị quét dọn sạch sẽ nhà cửa bằng thiền định và bằng ‘cây chổi’ ăn chay. Có phải vậy không? Người ta lúc nào cũng quét nhà bằng chổi. Chổi là làm bằng cây. Hoặc khi quý vị ăn bắp cải hay gì đó cũng có nhiều chất sợi, và cũng rửa sạch hệ thống của mình, khiến cho mình mỗi ngày một khỏe mạnh hơn. Bởi vậy cho nên tất cả quý vị nhìn trẻ hơn lúc trước khi truyền Tâm Ấn. Không cần đi thẩm mỹ viện, phải không? Khỏi cần, thật sự không cần.

Cho nên, lý do vị Minh sư nào cũng không thể xóa sạch hết nghiệp chướng cho đệ tử hoặc nghiệp chướng của thế giới hoặc xen vào nghịch cảnh nào, là bởi vì cả hai đều phải tôn trọng luật lệ của sân chơi này. Cũng giống như trong sân banh hai đội đều phải tôn trọng cùng luật lệ. Chúng ta có thể đàm đạo với nhau nhưng không thể phá luật chỉ vì người nào đó thuộc phe mình. Nếu anh chàng kia đá người mà anh ta không nên đá, chúng ta không thể làm gì được, anh đó phải bị loại. Không phải anh ta là bạn mình thì mình có thể che đậy bảo vệ cho anh ấy. Khi phe kia thắng hay là làm điều gì đó đúng, chúng ta không thể đá họ hay là tiêu diệt họ chỉ vì họ thuộc về phe địch.

Cho nên, tương tự vậy, trên đời này có hai phe chơi với nhau. Một là dương phe ta còn phe kia là âm, kêu bằng phe địch. Lúc nào nó cũng phá mình, gây rắc rối cho mình đủ thứ. Nhưng trước kia mình đã nợ nó cái gì đó rồi. Chúng ta sống ở cõi đời này, có liên hệ với họ trong nhiều kiếp. Cho nên bây giờ không thể quên đi những gì mình đã làm cho họ, hoặc những gì bạn mình đã làm cho họ trong quá khứ rồi che đậy cho bạn của mình, và đối xử với phe địch không đúng lẽ hoặc không công bình.

Thành ra, không phải là mình không có lực lượng. Không phải là Minh sư không làm gì được. Minh sư có thể chuyển biến cả vũ trụ, nhưng chúng ta cũng phải công bình. Nếu không thì không đáng làm Thánh nhân hay làm người tu hành. Bởi vậy đôi khi quý vị thấy nhiều Minh Sư họ rất kiên nhẫn. Như Phật Thích Ca: Ngài có thể đi tới bất cứ cõi Phật nào hay làm bất cứ điều gì Ngài muốn. Ngài có thể lo toan nghiệp chướng của đệ tử. Ngài có thể biến người ta trở thành A-la-hán qua đêm. Nhưng Ngài đã không thể thay đổi nghiệp quả của nơi Ngài sinh ra khi nơi đó bị chiến tranh tang tóc, xung đột với các nước láng giềng, cũng chỉ vì Ngài không muốn bất công đối với người khác hay đối với chúng sanh khác. Nhưng cũng vì vậy mà Ngài bị mang tiếng. Nhiều người, kể cả đệ tử của Ngài lúc bấy giờ, đều mất niềm tin nơi Ngài. Họ nghĩ Ngài không làm được gì cả. Ngay cả dòng họ của Ngài cũng bị hại; họ sắp sửa bị xử trảm mà Ngài cũng không làm gì được. Ngài chỉ đến nói chuyện với họ thôi; đó là điều duy nhất Ngài làm. Ngài ráng thuyết phục họ về những hậu quả tai hại của chiến tranh và của nhân quả luân hồi. Nhưng họ không nghe. Nghiệp lực quá mạnh đã kéo họ lại với nhau, và họ bám vào nhau, chết với nhau.

Ðức Phật không thể xen vào vì Ngài là một "cầu thủ" công bằng. Cũng như Chúa Giê-su, Ngài có rất nhiều thần thông, thể theo truyền thuyết. Cho nên Ngài chắc chắn là có khả năng, hoặc là có thể đã cứu được thân mình. Nhưng Ngài không làm, Ngài để mặc như vậy. Milarepa ở Tây Tạng cũng biết mình sắp sửa chết vì trúng độc. Thật ra, Ngài có nói với người đàn bà đó rằng: "Bà hãy đi lấy tiền công hạ độc ta từ người đó trước, rồi ta sẽ uống. Còn không, nếu uống rồi ta chết, người kia có thể sẽ không đưa món tiền đó cho bà". Cho nên tất cả những vị này đều biết trước khi họ vãng sanh. Phật Thích Ca cũng biết trước khi Ngài chết. Ngài đã nói rằng: "Ba tháng sau ta sẽ nhập Ðại Niết Bàn". Ý nói là rời thế giới này. Ngài hy vọng A-nan sẽ nói: "Xin Sư Phụ đừng chết". Nhưng A-nan có lẽ đầu óc lúc bấy giờ hãy còn nghĩ quá nhiều chuyện gì khác, hoặc ông đang đói bụng, nghĩ tới bánh cha-pa-ti, không nghe thấy Ðức Phật nói gì lúc đó. Cho nên Phật nói ra hiệu ba lần, nhưng A-nan không nói gì cả. Có lẽ ông nghĩ tới cha-pa-ti nhiều hơn; đi khất thực ngày một lần thôi thì cũng khó giữ đầu óc đừng nghĩ tới cha-pa-ti. Nên ông không có xin Phật ở lại cõi trần. Sau đó, Phật chán quá, Ngài nói: "Ba tháng sau ta sẽ rời thế giới này". Khi A-nan tỉnh ra khỏi giấc mơ cha-pa-ti, thì ông khóc lóc: "Ồ, xin Sư Phụ đừng đi!" Nhưng quá trễ rồi. Khi Phật hỏi ba lần mà mình không đáp thì đã thành cố định. Bởi vì Ma Vương lúc nào cũng ở quanh Phật. A-nan không trả lời thì Ma Vương nói: "Thấy không? Ðâu có ai muốn Ngài đâu! Cho nên Ngài phải đi".

Phật nói: "Thôi được". Ngài biết vậy, nhưng Ngài vẫn ra đi. Ngài cũng có thể chờ khi khác, lúc A-nan no rồi, thiền đầy đủ, đầu óc minh mẫn. Lúc đó hỏi cũng không sao. A-nan sẽ biết nói gì: "Ồ Sư Phụ ơi đừng có đi!" Nhưng Ngài chọn thời gian không đúng lúc, có lẽ Ngài biết đàng nào cũng đi. Cũng như Milarepa, hay cũng như Chúa Giê-su, Ngài cũng biết trước khi đi. Ngài nói: "Ðây là lần cuối các con gặp ta. Sau ngày mai, hoặc là một lát nữa các con sẽ không gặp ta nữa". Ngài biết như vậy. Thậm chí Ngài còn bảo các đệ tử của Ngài rằng người chấm bánh mì vào nước sốt, người gì gì đó sẽ là người sẽ bán đứng Ngài để lấy, có lẽ là, 200 đồng.

Cho nên, những vị gọi là Minh sư của thế giới này, họ biết hết; họ biết họ đang làm gì. Nhưng nhiều khi họ chỉ thuận theo những gì xảy ra, bởi vì thế giới này đã hiện hữu rồi, họ không thể tiêu diệt nó. Nhiều người muốn ở lại đây; toàn thể dân số của thế giới bám vào tinh cầu này, không muốn buông ra. Cho nên, ngay cả Phật cũng không tiêu diệt nó. Ngay cả Thượng Ðế cũng không tiêu diệt nó. Nếu nghiệp chướng không quá nặng nề, nếu nó vẫn còn quân bình, thì tinh cầu sẽ vẫn còn hiện hữu. Nhưng nếu tinh cầu hiện hữu thì phải có sự vay trả của nhân quả, không bao giờ hết được. Hôm nay họ giết người đó, ngày khác con cái của người đó sẽ giết họ, rồi con cái của họ sẽ giết con cái của người đó, cứ tiếp tục như vậy hoài cho tới khi nhóm người này tự họ tỉnh thức và nhận ra sự vô ích của cái vòng luẩn quẩn oái oăm không bao giờ dứt ấy. Lúc đó họ mới thôi không phục thù nữa, họ đứng yên, rồi mọi chuyện sẽ đổi khác.

Nếu không, người đời cứ tiếp tục chơi hoài, chơi hoài không bao giờ chấm dứt. Cho nên, khi Ðức Phật xuống đây, Ngài cũng phải tôn trọng luật chơi ở dưới này. Nếu không, Phật đã không xuống đây được. Ngay cả Thượng Ðế cũng không xuống được. Thí dụ như, nếu có vị tổng thống nào muốn chơi đá banh, dù ông ta là tổng thổng Mỹ được cả thế giới nể trọng, ông có thể nào được vào chơi mà không cần tôn trọng luật lệ đá banh không? Ông ta có thể nào được đá bậy bạ không? Không! Họ sẽ từ chối liền; đâu phải làm tổng thống rồi có thể vào sân banh nào đó rồi đá bậy đá bạ.

Cũng vậy, thế giới này là một sân chơi của chúng sanh ở tinh cầu này, và của trình độ tâm thức này. Do đó thế giới này là sân chơi của những kẻ ở tinh cầu, như loài người, loài vật, ma quỷ, yêu tinh, những kẻ vô hình ở khắp địa cầu. Cho nên ngay cả nếu như Thượng Ðế muốn xuống đây thuyết phục một số con cái Ngài trở về hoặc là tìm những người muốn trở về với Ngài, Ngài phải tôn trọng luật lệ ở đây.

Thí dụ như, ông tổng thống mến mộ vài người trong số những cầu thủ, có thể ông ta muốn làm bạn với một cầu thủ giỏi trong đó, muốn được ra sân banh làm bạn với người đó thì chỉ có cách là cũng làm cầu thủ, ít nhất cũng thỉnh thoảng làm hay giả bộ làm. Nên ông ta phải biết luật lệ và tôn trọng luật lệ. Rồi cuối cùng, hoặc là từ từ, sau đó dần dần, ông ta làm bạn với anh cầu thủ nổi tiếng đó. Rồi mới nói chuyện được với người đó, giúp đỡ họ hay yêu mến họ, hay là để ý tới họ rất nhiều, cho họ nhiều tình thương. Bằng không, ông không thể tùy tiện nhảy vào tại vì ông là tổng thống. Dù làm chủ cả sân đánh banh đó, ông cũng không được vào như vậy. Ngay cả chủ sân banh cũng không được vào, ngay cả triệu phú giàu có nhất thế giới cũng không được vào phá phách.